Cơ chế phản ứng của chất chống cháy

October 19, 2026

Về phản ứng cháy và cơ chế cháy, chất chống cháy nói chung có các loại cơ chế chống cháy sau: cơ chế chống cháy:
① Cơ chế chống cháy pha đặc
Ở nhiệt độ cao, chất chống cháy tạo thành pha đặc trên bề mặt polymer, cách ly không khí, ngăn cản truyền nhiệt và giảm giải phóng khí dễ cháy, từ đó đạt được khả năng chống cháy.
② Cơ chế bắt gốc tự do
Trong quá trình cháy của polymer, sự sản sinh lớn các gốc tự do HO · và H · thúc đẩy các phản ứng cháy pha khí. Nếu chúng ta có thể bắt và loại bỏ các gốc tự do này, cắt đứt phản ứng dây chuyền của gốc tự do, chúng ta có thể kiểm soát quá trình cháy và đạt được khả năng chống cháy.
③ Cơ chế làm mát
Chất chống cháy trải qua quá trình khử nước thu nhiệt, chuyển pha, phân hủy hoặc các phản ứng thu nhiệt khác, làm giảm nhiệt độ bề mặt polymer và vùng cháy, ngăn ngừa sự phân hủy nhiệt, và cuối cùng làm giảm sự bay hơi của khí dễ cháy, cuối cùng phá vỡ các điều kiện duy trì sự cháy liên tục của polymer, đạt được mục đích chống cháy.
④ Cơ chế khí không cháy
Loại chất chống cháy này có thể phân hủy thành một lượng lớn khí không cháy khi bị nung nóng, chẳng hạn như CO2, N2, NH3, H2O, HCl, HBr, v.v. Nó có thể pha loãng khí dễ cháy và pha loãng nồng độ oxy trong vùng cháy, ngăn ngừa sự cháy xảy ra.
⑤ Cơ chế tác dụng hiệp đồng
Sự pha trộn các chất chống cháy là một hệ thống hiệp đồng sử dụng sự tương tác giữa các chất chống cháy để cải thiện khả năng chống cháy.

 

Chất chống cháy là một quá trình rất phức tạp, và trên thực tế, nhiều hệ thống chống cháy có nhiều cơ chế chống cháy hoạt động đồng thời.

 

Polyphosphate amoni: Một hệ thống phốt pho nitơ (một chất chống cháy trương nở, trong đó phốt pho và nitơ tạo thành một lớp than trương nở trên bề mặt ở nhiệt độ cao, đóng vai trò là lớp bảo vệ cách nhiệt và ngăn oxy. Các hợp chất chứa nitơ hoạt động như chất tạo bọt và chất gia cố than. Phốt pho cung cấp nguồn axit (chất khử nước) và tương tác với nhựa để thúc đẩy sự hình thành cacbua. Nitơ cung cấp nguồn khí (chất tạo bọt), có thể làm trương nở hệ thống và thúc đẩy sự hình thành lớp than hóa, tạo thành lớp than xốp.